Tags

, , , , , , , ,


Hiệp định Genève

Hiệp định Genève và giải pháp chính trị cho Việt Nam.
Chu sơn
Mấy lời thưa trước.
Hai cuộc chiến tranh Đông dương bắt đầu từ 1945, kết thúc năm 1975, thực sự là sự phát triển đến đỉnh điểm, đồng thời là triền xuống của cuộc xung đột lợi quyền, sự khác biệt văn hóa và sự chênh lệch trình độ văn minh  Đông –  Tây nói chung, và Việt – Pháp, Việt – Mỹ nói riêng, khởi đầu từ 1858 khi liên quân Pháp – Tây Ban Nha tấn công vào Đà nẵng mở đầu cuộc xâm lược Việt nam; xa hơn nữa: từ đầu thế kỷ XVII khi các thương thuyền và các giáo sĩ thuộc các giáo hội thừa sai Bồ đào nha, Tây ban nha xâm nhập Đàn Trong, Đàn Ngoài.
Tham luận này trình bày một mắc xích nhỏ về mặt thời gian 2 tháng/ 30 năm, nhưng xét về mặt sách – chiến lược, là một bước ngoặc quan trọng trong cuộc đương đầu của dân tộc Việt nam với kẻ thù trước là thực dân Pháp và kẻ thù sau là đế quốc Mỹ.
Mắc xích và bước ngoặc đó là Hội nghị Genève với kết quả là Hiệp định Genève được ký kết vào cuối đêm 20 rạng sáng ngày 21 tháng 7 năm 1954  mà nội dung thường được tóm lược là: Đình chỉ chiến sự và lập lại hòa bình tại Đông dương.
Sự thật là đình chỉ chiến sự với Pháp. Nhưng chuẩn bị chiến tranh với Mỹ.
Còn hòa bình đối với Đông dương nói chung và Việt nam nói riêng chỉ là thời đoạn giải lao giữa hai cuộc chiến.
Bởi vẫn còn đó nguyên nhân đầu của sự xung đột Đông – Tây và cũng là động cơ chính yếu của cuộc đối kháng Việt – Mỹ.
Đối với Việt nam Dân chủ Cọng hòa và cả dân tộc Việt nam thì sự nghiệp đấu tranh cho nền độc lập, chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ vẫn còn dang dở: Nam – Bắc chia lìa. Miền Nam, một phần máu thịt của tổ quốc bị Mỹ khống chế dưới danh nghĩa bảo trợ cho tập đoàn Thiên Chúa giáo Ngô Đình Diệm các cứ trong mưu đồ hình thành nên một quốc gia riêng biệt.
Đối với Mỹ và các thế lực phụ thuộc thì chủ nghĩa chống Cọng Thánh chiến và học thuyết đô mi đô cần phải được đẩy mạnh, biến miền Nam thành một tiền đồn của Thế giới Tự do chống lại sự “xâm lược của cọng sản Bắc Việt” vô thần và độc tài, xa hơn nữa là cọng sản Trung quốc, Liên xô.
Bài tham luận này tập chú nhiều hơn về lãnh vực chính trị. Vấn đề khác biệt văn hóa và sự chênh lệch trình độ văn minh sẽ được suy gẫm sâu hơn vào một dịp khác.
Nội dung tham luận.
Chữ “cho” trong tiêu đề trên chủ ý mô tả quyền lực thực sự tại hội nghị Genève nằm trong tay ngũ cường: Nga, Anh, Mỹ, Trung quốc và Pháp. Mặc dầu là nước thắng trận, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa chỉ được cử phái đoàn tham dự theo lời mời cũng như ba phái đoàn đại diện cho ba thế lực bù nhìn thuộc chính quyền Liên hiệp do Pháp lãnh đạo. Nhìn vào tiến trình tổ chức và diễn biến hội nghị, ta thấy tương quan lực lượng còn nghiêng về phía bên kia, phe Tư bản chủ nghĩa, mặc dù trên chiến trường Pháp đã thua một cách nhục nhã (trận Điện Biên Phủ) và Mỹ cũng chia phần cay đắng bởi đã bỏ nhiều của cải vào giai đoạn II của cuộc chiến tranh Đông dương lần thứ nhất (hay còn gọi là chiến tranh Việt – Pháp ( 1945 – 1954 ), đặc biệt đang phát triển mạnh mẽ chủ nghĩa chống Cọng Thánh chiến và học thuyết Dô – mi – nô.
Để biết rõ hơn tình cảnh Việt Nam vào thời điểm 1954, thời điểm kết thúc cuộc chiến, chúng ta không thể không nhìn trở lại bối cảnh quốc tế và tình cảnh Đông dương vào thời điểm 1945, thời điểm kết thúc thế chiến II, và cũng là thời điểm bắt đầu cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất. 13 – 8 – 1945, Nhật đầu hàng, trước đó, năm 1943, phe Đồng minh chống Phát xít đã nhóm họp ở Cairo  (11 – 1943)  và Téheran (2 – 1945 ) để bàn về việc phân chia lại thế giới và quyết định thân phận cho Đông dương. Tại các hội nghị này, Roosevelt, tổng thống Mỹ, và Stalin, chủ tịch Liên Xô bày tỏ một ý kiến gần giống nhau: Không nên trao Đông Dương lại cho Pháp, mà nên thực hiện một tình trạng ủy nhiệm quốc tế trong vòng hai, ba chục năm trước khi dân chúng ở đây học tập được khả năng quản lí xứ sở mình. Ý kiến này không được Anh và nhất là Pháp biểu đồng tình. Tưởng Giới Thạch vào thời điểm đó (1943) chưa quan tâm lắm đến quyền lợi Trung Quốc ở Đông Dương vì đang dành tâm sức cho cuộc nội chiến. Roosevelt đột ngột qua đời trước khi thế chiến II kết thúc. Truman lên cầm quyền ở Mỹ, lập trường của bốn nước đồng minh tư bản Mỹ, Anh, Pháp, và Trung hoa Dân quốc trở nên thống nhất. Nhật đầu hàng. Anh và Trung hoa Dân quốc đưa quân vào Đông dương giải giới quân Nhật, tạo điều kiện cho Pháp tái chiếm thuộc địa. Như thế Đông dương trở thành chiến lợi phẩm của bốn nước đồng minh Tư bản chủ nghĩa. Cuộc diện thế giới một lần nữa chia hai, bắt đầu một cuộc xung đột mới gọi là chiến tranh lạnh giữa hai phe Tư bản và Cọng  sản.
Tại Châu Âu, nửa phía Đông (gồm Liên Xô và các nước Đông Âu) thuộc quyền cai quản của Liên xô, nửa phía Tây thuộc quyền cai trị của Mỹ và  Anh, Pháp.
Tại châu Á, vào thời điểm 1945, chưa có quốc gia nào thiết lập chế độ Cọng sản, nhưng các phong trào độc lập dân tộc đa phần chọn ý thức hệ Cọng sản làm ngọn cờ liên kết và động lực cách mạng xã hội. Các nước Tư bản chủ nghĩa vì quyền lợi của quốc gia mình đã hồi phục chủ nghĩa thực dân cũ và manh nha hình thành chủ nghĩa thực dân mới- chống Cọng và tái chiếm thuộc địa: Pháp quay lại Đông dương, Anh củng cố chế độ thuộc địa Ấn độ. Mỹ bảo hộ Nhật Bản, Philippine, giúp phe quốc gia Lý Thừa Vãn đánh phe Cọng sản Kim Nhật Thành ở Triều tiên, giúp Tưởng Giới Thạch Quốc Dân đảng đánh Mao Trạch Đông Cọng sản đảng ở Trung quốc. Tại Indonesia và Mã lai cũng xảy ra tình trạng tương tự. Như thế tình hình châu Á nói chung và Đông dương nói riêng trở nên phức tạp sau thế chiến II. Cuộc xung đột giữa các thế lực thực dân cũ phục hồi và các phong trào độc lập dân tộc lồng trong khung cảnh cuộc xung đột ý thức hệ Tư bản – Vô sản, hữu thần – vô thần, quốc gia – quốc tế.
Xem ra, việc Pháp quay trở lại thuộc địa cũ (Đông dương) trên bình diện bang giao quốc tế cũng như trong tương quan sức mạnh đang phát triển tại vùng lãnh thổ này có nhiều thuận lợi.
Trước thế chiến II, khai hóa và chống Cọng chỉ là chiêu bài do thực dân đơn phương đưa ra. Nay cuộc lội ngược dòng lịch sử này mang thêm sứ mệnh quốc tế (Tư bản chủ nghĩa) và màu sắc thánh chiến. Sau lưng Pháp còn có Anh, Tàu Tưởng và đặc biệt là Mỹ. Ngoài ra còn có một đồng minh truyền thống là giáo hội La mã (trong thế chiến II La mã đứng về phe Phát Xít). Phía trước đoàn quân Pháp tái chiếm thuộc địa đã có quân Anh và hai trăm ngàn quân Tàu Tưởng dọn đường. Trong lòng thuộc địa cũ còn có nhiều nhóm thế lực trông chờ được giải phóng để tiếp tay: Thứ nhất là hàng chục ngàn binh lính, nhân viên và dân thường (Pháp) đang bị nhốt trong các trại giam Nhật. Thứ hai đám tay chân trong các cơ cấu bình phong công cụ cũ (vương triều An nam, Miên, Lào, chính phủ Nam kỳ quốc). Thứ ba: hàng triệu giáo dân Thiên Chúa giáo sẵn sàng hay bị bắt buộc hành xử theo mệnh lệnh của các giám mục, cha cố thuộc giáo hội Thừa sai Pháp quốc hải ngoại và giáo hội La mã.
Về phía đối phương, qua mắt nhìn, đánh giá của thực dân Pháp thì Việt minh Cọng sản là một đảng nguy hiểm nhất trong số các tổ chức phiến loạn. Nhưng đó là trước đây, lúc Việt minh Cọng sản còn hoạt động bí mật. Nay đảng này đã ra công khai nắm chính quyền thì các nhân vật chủ chốt và sức mạnh đã bộc lộ hết, số lượng đảng viên không nhiều (5000 năm 1945) và lực lượng du kích thì chỉ một nhóm nhỏ với vũ khí thô sơ thiếu thốn, tài chính không, kinh tế không và đặc biệt không được hổ trợ chính thức công khai từ bên ngoài, thì Việt minh Cọng sản không còn nguy hiểm, không là đối thủ của hàng trăm ngàn lính tráng, sĩ quan, tướng lĩnh nhà nghề được huấn luyện bài bản, được trang bị đầy đủ vũ khí hiện đại và đặc biệt vừa được tôi luyện trong thế chiến II. Chỉ cần một cuộc hành quân tiến hành như một cuộc đảo chính trong vòng năm bảy ngày là chắc chắn Việt minh Cọng sản sẽ bị đánh bại.
Về phía ta, lực lượng kháng chiến là cả một dân tộc qui tụ chung quanh mặt trận Việt minh được lãnh đạo bởi lãnh tụ kiệt xuất Hồ Chí Minh và đảng Cọng sản dày dạn qua đấu tranh bí mật nhưng chưa có kinh nghiệm cầm quyền. Cách mạng tháng Tám nổ ra trong bối cảnh dồn dập những sự kiện to lớn: Pháp chia quyền (1941), đầu hàng Nhật (tháng 3 năm 1945), rồi Nhật đầu hàng Đồng minh (13 – 8 – 1945), chính quyền Việt nam Dân chủ Cọng hòa thành lập và ra mắt công chúng khi quân Đồng minh lục tục kéo tới (2 – 9 – 1945). Hai sự kiện: Cách mạng tháng Tám bùng nổ và chính phủ Việt nam Dân chủ Cọng hòa ra đời làm nức lòng đông đảo quần chúng khắp cả nông thôn và thành thị, đồng thời cũng làm chóng mặt một bộ phận quần chúng khác có lịch sử xa lìa dân tộc và gần gũi với thực dân (các tập đoàn nòng cốt của Nam kỳ quốc, triều đình An nam và giới lãnh đạo cao cấp Thiên Chúa giáo trong giáo hội Thừa sai và La mã). Bảo Đại thoái vị và được mời làm cố vấn tối cao cho chính phủ Hồ Chí Minh. Bốn giám mục người Việt nam đầu tiên do sức ép của quần chúng đã gởi thư xin Giáo hoàng La mã và kêu gọi tín đồ Thiên Chúa giáo trên thế giới ủng hộ nền độc lập Việt nam. Giám mục Lê Hữu Từ cũng chấp nhận làm cố vấn tối cao cho chính phủ Việt nam Dân chủ Cọng hòa.
Cách mạng tháng Tám thành công, chính phủ Việt nam Dân chủ Cọng hòa thành lập nhưng tên nước Việt nam chưa có trên bản đồ thế giới và Đông dương thời đó. Việt nam thực tế là chiến lợi phẩm của phe Đồng minh Tư bản chủ nghĩa: Mỹ, Pháp, Anh, Trung hoa Dân quốc và La mã. Các nước này đã chia Việt nam làm hai khu vực giải giới quân Nhật đầu hàng, từ vĩ tuyến 16 trở xuống thuộc trách nhiệm và quyền hạn của quân Anh, từ vĩ tuyến 16 trở lên thuộc trách nhiệm và quyền hạn của Trung hoa Dân quốc. Quân Anh vào cảng Sài Gòn, gần hai trăm ngàn quân Tàu Tưởng tràn qua biên giới phía bắc. Sau lưng quân đội Anh là quân đội Pháp, sau lưng quân Tưởng ô hợp và cướp bóc là một nhóm đảng phái Việt nam cựu yêu nước và cựu cách mạng muốn nắm chính quyền.
Việt minh, chính phủ Việt nam Dân chủ Cọng hòa, đảng Cọng sản và Hồ Chí Minh tứ phương thọ địch. Không chỉ có giặc ngoại xâm mà còn có cả nội thù và hai thứ giặc truyền kiếp là giặc đói và giặc dốt. Cùng một lúc lực lượng du kích trẻ, nhỏ được trang bị vũ khí và kỹ năng tác chiến thô sơ đương đầu với hàng trăm ngàn quân xâm lược nhà nghề được trang bị đầy đủ vũ khí và các phương tiện chiến tranh tiên tiến: Tàu chiến, máy bay, đại bác, xe tăng và các loại cơ giới khác…
Trước tình hình tương quan lực lượng như thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh, các nhà lãnh đạo cách mạng và kháng chiến Việt nam đã nổ lực hết sức để một mặt thuyết phục Pháp giải quyết vấn đề Việt nam trong tương nhượng và hòa bình, đồng thời chuẩn bị xây dựng lực lượng và căn cứ kháng chiến hầu đáp ứng với tình hình xấu nhất. Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946 và tạm ước Fontainebleau (14 – 9 – 1946 ) cuối cùng chỉ là giải pháp thời gian. Mâu thuẫn Việt – Pháp không giải quyết được trong hòa bình, tất yếu rồi sẽ bùng phát chiến tranh.
Ngày 19 tháng 12 năm 1946 là ngày toàn quốc kháng chiến. Trước đó hơn một năm, ngày 23 tháng 9 năm 1945, chiến tranh đã nổ ra ở Nam bộ.  Khi mà quyết ý của thực dân Pháp từ De Gaude đến Thiery
d’ Argendelieu, đến Valluy đều muốn dùng bạo lực để tái chiếm thuộc địa, thì sớm hay muộn chỉ có chiến tranh. Về phía ta, sau khi chiến tranh đã khai diễn, chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần gởi thư cho các giới chức thẩm quyền của Pháp để đề nghị vãn hồi hòa bình, nhưng chúng ta chỉ nhận được từ phía Pháp lời kêu gọi thách thức và kiêu ngạo: Đầu hàng. Bởi theo sự tính toán của chúng, “chỉ cần một cuộc hành quân tiến hành như một cuộc đảo chính là lật đổ và tiêu diệt được chính quyền và mầm mống bạo loạn của Việt minh Cọng sản”. Nhưng chiến tranh đã không diễn ra theo kịch bản Thực dân tiên liệu. Sau lưng Hồ Chí Minh, đảng Cọng sản và Việt minh còn có cả một dân tộc thà quyết tử cho tổ quốc quyết sinh. Và con đường duy nhất mà các nhà lãnh đạo dân tộc đã vạch chọn là trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi. Sự thật này thực dân Pháp đã hoàn toàn mù tịt. Đầu năm 1947 các giới chức thẩm quyền của thực dân Pháp bắt đầu nhận ra tình trạng bị sa lầy. Nhưng chúng vẫn ngoan cố bám đuổi mục tiêu của mình. Chúng hy vọng vào một giải pháp chính trị có khả năng làm suy giảm sức mạnh của đối phương. Chúng tìm đến Bảo Đại, kẻ đã từ bỏ vai trò cố vấn tối cao và đang sống lưu vong ở Hồng Kông. Chúng tìm đến giáo hội La mã để khống chế lập trường của các giáo sĩ và giáo dân người Việt. Để hình thành cho được giải pháp Bảo Đại, thực dân Pháp phải mất nhiều công của và sức lực trong vòng ba năm (1947 –  1949), từ những tiếp xúc ban đầu ở Hồng Kông (đầu năm 1947) đến việc Bảo Đại ký tắc hai văn kiện do cao ủy Bollaert soạn thảo: Tuyên bố chung và nghị định thư, trên tuần dương hạm Duguay – Trouin tại vịnh Hạ Long (6 – 12 – 1947), đến khi Bảo Đại nhận làm Quốc trưởng, chứng kiến Bollaert và Nguyễn Văn Xuân ký kết thỏa ước Hạ Long (5 – 6 – 1948), cuối cùng là thỏa ước Élysée ký kết giữa Vincent  Auriol –  Bảo Đại ngày 8 – 3 – 1949 .
Giải pháp chính trị với La mã đối với thực dân Pháp đơn giản và dễ dàng hơn nhiều: Công cuộc truyền giáo và chủ nghĩa thực dân là hai mũi giáp công của phương Tây vào Việt nam từ đầu thế kỷ thứ XVII, đến khi nổ ra cách mạng tháng Mười Nga và cách mạng tháng Tám Việt nam thì cuộc thánh chiến chống Cọng đã liên kết chặc chẽ hơn nữa hai đồng minh lâu đời này.
Không ai ngạc nhiên khi Giáo hoàng và giáo hội La mã im lặng hoàn toàn trước sự kêu xin tha thiết ủng hộ nền độc lập cho dân tộc Việt nam của bốn vị Giám mục người Việt  đại diện cho hàng triệu tín đồ Việt nam trước hai sự kiện trọng đại là cách mạng tháng Tám và thành lập nhà nước Việt nam Dân chủ Cọng hòa.
Không khó hiểu lắm khi một đô đốc – linh mục Thiery d’Arganlieu được bổ nhiệm làm cao ủy và tổng chỉ huy công cuộc tái chiếm Đông dương. Cũng không khó hiểu lắm khi khâm mạng Tòa thánh Drapier ban phép lành và các giám mục thừa sai Chaize (địa phận Hà Nội), Artaras (địa phận Bắc Ninh), Ubierna (địa phận Thái Bình), Cosman (địa phận Thanh Hóa), Gomez (địa phận Hải Phòng) đã cổ vũ, giúp đỡ tài chính và nhiều phương tiện khác cho giám mục Lê Hữu Từ tổ chức lực lượng vũ trang, thành lập khu tự trị Bùi Chu, Phát Diệm để “nói chuyện với Cọng sản”. Như thế là đa số gia đình thiêng liêng người Việt đã hình thành nên một lực lượng đứng chung chiến tuyến với quân xâm lược Pháp, chấm dứt giai đoạn nhập nhằng ngán ngủi giữa tình tự dân tộc và niềm tin tôn giáo. Nhưng thực tế chưa chuyển biến hoàn toàn như mong ước của giáo hội La mã, giáo hội Thừa sai Pháp quốc hải ngoại và thực dân Pháp.Vẫn còn một thiểu số linh mục, giáo dân chọn lựa con đường “kính Chúa yêu nước”, đi theo Việt minh đánh Pháp. Để chiêu hồi các con chiên lầm lạc này và cũng để khẳng định lập trường chống Cọng hoàn toàn là một tín điều, ngày 1 tháng 7 năm 1949, giáo hội La mã đã gián tiếp ra lệnh cho giáo dân Việt nam qua cuộc trả lời phỏng vấn báo chí về vấn đề chính trị nội bộ của nước Ý rằng là: “sẽ tức khắc áp dụng vạ tuyệt thông và khai trừ khỏi các bí tích cho bất cứ ai quan hệ với Cọng sản dưới bất cứ hình thức nào”. Ý chỉ này của Giáo hoàng La mã tức khắc được các phương tiện truyền thông của thực dân Pháp chuyển đến các giáo xứ, giáo dân Việt nam tại các vùng xảy ra chiến sự cũng như trong các thành phố, thị trấn quân Pháp đã tái chiếm.
Đầu tháng 1 năm 1950 Giáo hoàng La mã đã thiết lập quan hệ ngoại giao với “chính quyền Quốc gia” của Bảo Đại, trước Hoa Kỳ một tháng và trước thời điểm Trung quốc công nhận ngoại giao với Việt nam Dân chủ Cọng hòa trên dưới 20 ngày. Cũng thời điểm này, de Lattre de Tassigny trước khi tới Việt nam nhận chức toàn quyền và tổng tư lệnh quân viễn chinh Pháp đã ghé La mã và đi Hoa kỳ. Tại La mã, viên tướng này được Giáo hoàng nhiệt liệt bày tỏ thiện chí: “Tôi chúc lành cho đạo quân Pháp do ngài chỉ huy và đại diện, bởi vì nó đang bảo vệ nền văn minh Kytô giáo”.
Ngày 19 – 11 – 1951  trước sự thúc bách của de Lattre de Tassigny và khâm sứ tòa thánh Dooley, 12 giám mục gồm 7 Thừa sai và 5 Việt nam đã công bố một thư chung lên án Cọng sản và nghiêm cấm giáo sĩ, giáo dân Việt nam tuyệt đối không quan hệ với Việt minh Cọng sản dưới bất cứ hình thức nào.
Song song với việc thúc bách người Thiên chúa giáo Việt Nam ủng hộ thực dân Pháp tái chiếm thuộc địa, giáo hội La mã đã kiên trì tiến hành sách lược chuyển đổi quyền lãnh đạo cộng đồng Thiên chúa giáo Việt Nam từ giáo hội thừa sai Pháp quốc hải ngoại qua tay minh bằng kế hoạch cử Khâm mạng Tòa thánh đến Việt nam và phong chức Giám mục cho các linh mục người Việt nhằm tránh tình trạng “các giám mục, giáo sĩ thừa sai bị phong trào độc lập dân tộc đánh đuổi cùng với binh lính, sĩ quan và tướng lãnh thực dân”. Đây là kế hoạch “bản địa hóa” các giáo hội địa phương nằm trong sách lược toàn cầu hóa của giáo hội La mã bắt đầu từ sau khi cách mạng thánh 10 Nga thành công:
– Năm 1919, chủng sinh Việt Nam đầu tiên – Ngô Đình Thục – được đưa đi đào tạo linh mục tại La mã.
– Năm 1922, Nguyễn Hữu Bài, thượng thư, người Thiên chúa giáo nắm thực quyền tại triều đình An nam, là người bảo hộ cho gia đình họ Ngô, trong chuyến đi Pháp cùng với Khải Định, đã đến La mã diện kiến Giáo hoàng. Năm 1925 Giáo hoàng La mã quyết định thiết lập tòa Khâm mạng tại Huế, Nguyễn Hữu Bài hiến tặng đất và vận động kinh phí xây dựng.
– Năm 1933, Giáo hoàng La mã phong giám mục đầu tiên người Việt nam cho Nguyễn Bá Tòng, năm 1935 cho Hồ Ngọc Cẩn, năm 1938 cho Ngô Đình Thục. Lễ tấn phong cho Ngô Đình Thục được tổ chức tại nhà thờ Phủ Cam Huế. Nhân dịp này Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Huân tháp tùng Ngô Đình Thục trong cuộc hành trình từ Nam ra Bắc, tham dự các thánh lễ, các lễ hội, các cuộc đón rước  tại các chủng viện, các trung tâm Thiên Chúa giáo lớn. Đây cũng là cuộc diễu hành chính trị mà giáo hội La mã đầu tư vào gia đình họ Ngô. Tháng Tám 1958, Ngô Đình Diệm theo Ngô Đình Thục rời Việt nam đi Nhật (thăm Cường Để) gặp Wesley Fishel nhân viên cao cấp của tình báo Hoa kỳ, đến La mã (dự năm thánh) tiếp kiến Đức Giáo hoàng, sang Mỹ gặp Hồng y Spellmen, qua Spellmen tiếp xúc với các chính khách cao cấp Mỹ: Mike Mansfield, John Kennedy, Walter Judd, William Dongles, đi lại giữa Mỹ và châu Âu nhiều lần để tiếp xúc với các thế lực chính trị Thiên Chúa giáo…
Nhìn lại các sự kiện này chúng ta sáng tỏ ra vì sao Ngô Đình Diệm năm 1933 đã từ chức thượng thư khi đối đầu với Phạm Quỳnh – người của giáo hội Thừa sai chấp nhận các giới hạn quyền lực của nội các do Toàn quyền Đông dương và tòa Khâm ban cho triều đình An nam trong dịp Bảo Đại hồi loan chấp chính. Cũng từ những sự kiện đó, chúng ta có cơ sở để hiểu tại sao Ngô Đình Diệm đã từ chối tham dự hay đứng ra thành lập nội các sau khi Bảo Đại ký với Pháp các hiệp ước Hạ Long (1948) và Élysée (3 – 1949), để rồi tháng 6 – 1954, trong lúc hội nghi Genève  nhóm họp, đã nhận lời của Bảo Đại về nước chấp chính, và đã “quì dưới chân Hoàng thượng thề nguyện trung thành”, đồng thời cũng long trọng tuyên hứa với bà Nam Phương “sẽ chăm lo cho quyền lợi của triều Nguyễn và ngôi vua của Bảo Long sau này”
Sau “bao năm lê gót nơi quê ngưới”, Ngô Đình Diệm, kẻ miệt mài đi tìm quyền lực tại các trung tâm quyền lực nước ngoài, từ Thực dân Pháp đến Phát xít Nhật, đến thời điểm 1954 đã được chọn làm ngọn cờ của Mỹ và giáo hội La mã –  những chủ nhân mới của phe Quốc gia sẽ thay thế Pháp và giáo hội Thừa sai trong cuộc Thánh chiến chống Cọng và bảo vệ phần lãnh thổ còn lại của Việt nam, biến nó thành tiền đồn của phe Tư bản chủ nghĩa và nền văn minh Kyto giáo. Ngô Đình Diệm con người lầm lì, vụng về, nhưng nhiều tham vọng đã cùng với các anh em Ngô Đình Thục, Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Luyện, Ngô đình Cẩn ôm giấc mộng tranh bá đồ vương, đã nương theo sách lược toàn cầu của Mỹ và La mã hòng xây dựng một đế chế Thiên chúa giáo mẫu mực tại Đông Nam Á và Á châu.
Trở lại câu chuyện Mỹ. Sau thế chiến II, Mỹ nghiễm nhiên là một siêu cường có bom nguyên tử, có nền công nghệ quốc phòng, kinh tế hiện đại, giàu mạnh hàng đầu thế giới. Trong tư thế này, Mỹ thấy rằng mình có quyền và trách nhiệm đối với an ninh của toàn cầu.
Nhưng ưu tiên số một của Mỹ vào thời điểm đó là châu Âu.Châu Á vào thời điểm đó đối với Mỹ còn là khu vực thứ yếu. Do vậy gần như Mỹ đã ủy thác công cuộc chống Cọng cho Pháp và hổ trợ cho nước này tái chiếm thuộc địa.
Đến khi thấy cuộc tiến công của Pháp không hề đơn thuần là một biện pháp quân sự như dự kiến lúc ban đầu là sẽ tiêu diệt Việt minh Cọng sản trong một thời gian ngắn, mà trái lại, từng bước rơi vào thế bị động và sa lầy trước chiến lược chiến tranh nhân dân của Việt minh. Lại nữa, đến thời điểm cuối năm 1949 khi quân Tưởng Giới Thạch bị đánh bại và tháo chạy khỏi Hoa lục, kháng chiến Việt nam nhận được sự hổ trợ từ Cọng hoà Nhân dân Trung hoa, Liên xô và các nước Xã hội chủ nghĩa Đông Âu, tương quan lực lượng trên chiến trường và cả trên mặt ngoại giao có chiều hướng nghiêng về phía Việt minh Cọng sản, Mỹ đã vội vàng giúp đỡ cho Pháp tích cực hơn.
— Một mặt Mỹ vận động các quốc gia cùng quỹ đạo công nhận ngoại giao “chính phủ Quốc Gia” của Quốc trưởng Bảo Đại hình thành từ sau hiệp ước Élysée.
— Một mặt thành lập nhóm cố vấn và viện trợ quân sự (MAAG) để qua đó tiến hành các chương trình, kế hoạch viện trợ và cố vấn các vấn đề chiến lược bên cạnh bộ chỉ huy tối cao của Pháp tại Đông dương.
Như thế, từ 1950, Mỹ đã để một chân vào vùng lãnh thổ này. Nhiều chính khách, tướng lãnh, nhà chỉ huy quân sự và nhân viên tình báo tới tấp đến Việt Nam quan sát tình hình và chia sẻ với Pháp các vấn đề chiến lược, thúc đẩy Pháp tích cực “ Việt nam hóa chiến tranh”, khuyến dụ chính phủ Quốc gia và các phe nhóm chống Cọng bản địa chủ động hơn trong công cuộc tiếp nhận quyền lực từ ông chủ Pháp. Đặc biệt qua đó CIA tuyển mộ điệp viên và tìm “ngựa” cho cuộc dấn thân của mình khi có thời cơ. (Ngô Đình Diệm là một trong những đối tượng kén chọn của Mỹ trong thời gian này).
Tiền Mỹ, súng ống bom đạn Mỹ và máu Pháp, máu Việt, khái quát như thế không hoàn toàn chính xác giai đoạn II của cuộc chiến tranh Pháp – Việt (1950 – 1954), nhưng hoàn toàn không sai khi bảo rằng : Tiền Mỹ, súng ống bom đạn Mỹ là tiền đề cho cuộc thay chủ đổi ngôi từ thực dân cũ (Pháp) qua thực dân mới (Mỹ), từ giải pháp cũ (Bảo Đại) qua giải pháp mới (Ngô Đình Diệm).
Thời cơ đó là cuộc bại trận thê thảm của Pháp ở Điện Biên Phủ và hội nghị Genève.
Đầu năm 1954 ( từ 25 – 1 đến 18 – 2 ) bốn ngoại trưởng Mỹ, Liên xô, Anh, Pháp nhóm họp ở Berlin để bàn về việc thống nhất nước Đức. Kết thúc hội nghị, đại diện tứ cường quyết định tổ chức một hội nghị khác vào ngày 26 – 4  tại Genève để bàn thảo về vấn đề chính trị cho Triều tiên. Nhân dịp này, ngoại trưởng Pháp Bédault đề nghị vấn đề đình chỉ chiến sự và lập lại hòa bình cho Đông dương cũng nên đàm phán tiếp theo. Mặc dù không muốn, ngoại trưởng Mỹ cũng đành chấp hành ý kiến của đa số, bởi Molotop ngoại trưởng Liên xô và Eden ngoại trưởng Anh đã nồng nhiệt ủng hộ đề xuất của Pháp.
Tại Đông dương tình hình chiến sự phát triển đến đỉnh điểm vào cuối mùa xuân 1954. Cuộc thách đấu giữa Navare và Võ Nguyên Giáp ở Điện Biên Phủ đã sẵn sàng. Để tăng cường sức mạnh ở Việt nam và Đông dương, đầu tháng ba chính phủ Pháp cử tướng Ely từ Đông dương đi Mỹ vận động tăng bổ viện trợ. Tại Washington đô đốc Mỹ Arthur Radford trình bày trước đoàn quân sự Pháp kế hoạch Kền Kền (Vantour). Theo đó, máy bay từ hạm đội thứ 7 và các căn cứ ở Phillipine sẽ oanh tạc các điểm đóng quân và các kho vũ khí của Việt minh bao quanh Điện Biên Phủ. Kế hoạch này cả hai phía Mỹ và Pháp chưa có sự nhất trí đầy đủ. Cuối tháng Tư, Tổng thống và Phó Tổng thống Mỹ (Eisenhower và Nixon) tuyên bố sẵn sàng cung ứng cho Pháp hai trái bom nguyên tử cở nhỏ.
Ngày 15 tháng 5, tám ngày sau Điện Biên Phủ thất thủ và hội nghị Genève khai mạc, ngoại trưởng Mỹ Dulles còn đe dọa: kế hoạch Vantour có khả năng được thực hiện. Ngày 27 tháng Năm đô đốc Mỹ Carny phụ họa lời tuyên bố của bộ trưởng ngoại giao. Ngày 10 tháng 6, Dulles một lần nữa lặp lại lời đe dọa Vantour.Tất cả đều là động tác giả để hù dọa đối phương.
Trong bầu không khí căng thẳng ấy, hội nghị Genève về vấn đề Đông dương chính thức khai mạc ngày 8 tháng 5 năm 1945 gồm 9 quốc gia tham dự:
–        Phái đoàn Anh cầm đầu bởi Anthony Eden (Ngoại trưởng).
–        Phái đoàn Liên Xô cầm đầu bởi Vycheslav Molotop (Ngoại trưởng).
–        Phái đoàn Pháp cầm đầu bởi Georges Bidault (Ngoại trưởng) trước 20 tháng 6 và Mendes France (thủ tướng kiêm bộ trưởng ngoại giao) từ 20 tháng 6 đến kết thúc hội nghị (20 tháng 7).
–        Phái đoàn Mỹ cầm đầu bởi Bedell Smith (Thứ trưởng ngoại giao).
–        Phái đoàn Trung quốc cầm đầu bởi Chu Ân Lai (thủ tướng).
–        Phái đoàn Việt Nam Dân Chủ Cọng Hòa cầm đầu bởi Phạm Văn Đồng (thủ tướng).
–        Phái đoàn Quốc Gia Việt Nam cầm đầu bởi Nguyễn Quốc Định và Nguyễn Trọng Vĩnh thời kỳ chính phủ Bửu Lộc, Trần văn Đó thời kỳ chính phủ Ngô Đình Diệm.
–        Phái đoàn Hoàng gia Lào cầm đầu bởi Phumi Savanikone.
–        Phái đoàn Hoàng gia Cam Bốt cầm đầu bởi Tep Than – Sam Sary.
Đồng chủ tịch hội nghị là Molotop và Eden.
Thực tế, trước và trong lúc diễn ra các cuộc hội đàm chính thức tại hội trường, còn có các hội nghị, đàm phán tay đôi, tay ba giữa các đối tác gọi là đồng minh, đồng chí hay các đối thủ để giải thích và thống nhất đường lối sách lược hay để mặc cả lợi quyền song phương, tam phương ở các địa điểm khác bên ngoài hội nghị như Mạc Tư Khoa, Hoa Thịnh Đốn, Paris, Berne, Liễu Châu.
Ở hội nghị trù bị Mạc Tư Khoa diễn ra trước hội nghị Genève khai mạc, Việt nam được Trung quốc, Liên Xô thông báo:
“Trong trường hợp chiến tranh tiếp diễn, Trung Quốc và Liên Xô không còn viện trợ thêm được nữa”
Ở hội đàm Hoa Thịnh Đốn – Ngày 29 tháng 6 năm 1954, Eisenhower và Churchill ra tuyên bố chung, thống nhất lập trường, điều kiện của đồng minh Mỹ –  Anh và đã bí mật gởi cho Pháp. Nội dung tuyên bố này gồm:
–        1/ Hai nước Lào và Cam Bốt phải được độc lập. (Có nghĩa là quân đội Việt Minh phải rút khỏi lãnh thổ hai nước này – Chu Sơn).
–        2/ Giữ lại một phần nửa của Việt nam từ vĩ tuyến 18 trở xuống. Ít nhất là từ phía Nam Đồng Hới và một cứ điểm ở đồng bằng Bắc bộ.
–        3/ Lào, Cam Bốt và miền Nam Việt nam không bị đặt trong những điều kiện hạn chế nhằm duy trì một chế độ không Cọng sản, đặc biệt có quyền bảo vệ an ninh của mình, trang bị mới và đầy đủ các phương tiện quân sự, mời cố vấn và kêu gọi sự giúp đỡ từ bên ngoài. (Có nghĩa là Mỹ có thể  hiện diện ở phần còn lại ở Đông Dương – trừ miền Bắc chia cho Cọng sản – Chu Sơn).
–        4/ Không có điều kiện chính trị nào dẫn đến nguy cơ các vùng đất này rơi vào tay Cọng sản.
–        5/ Không loại trừ việc thống nhất Việt nam bằng phương thức hòa bình, nhưng chỉ có thể thực hiện việc thống nhất ấy vào một thời điểm thích hợp về sau (có nghĩa là không ấn định rõ ràng giải pháp chính trị – Chu Sơn}.
–        6/ Người dân ở các vùng khác nhau có quyền đi lại từ nơi này qua nơi khác theo yêu cầu và tự do chọn lựa nơi cư trú thích hợp trong những điều kiện an ninh và nhân đạo (có nghĩa là Mỹ và Pháp đã dự liệu cho cuộc di cư gần một triệu người từ Bắc vào Nam)
–        7/ Thành lập những tổ chức quốc tế nhằm giám sát các quá trình thi hành hiệp định.
Có thể nói thông cáo chung Anh – Mỹ là cốt lõi của lập trường phương Tây (Mỹ, Anh, Pháp) về vấn đề Đông dương và Việt nam. Rất nhiều cuộc gặp gỡ, hội đàm tay đôi hoặc tay ba giữa Dulles, George Bidault, Eden, Mendes France và các nhân vật thứ yếu của Pháp và Mỹ,Anh  để san bằng các khác biệt nội bộ và củng cố thêm sức mạnh nhằm răn đe đối phương trong các cuộc đàm phán bí mật cũng như công khai.
Về phía các nước phe Xã hội Chủ nghĩa, ngoài hội nghị trù bị Mạc Tư Khoa còn có hội nghị Liễu Châu ngày 3 – 7 – 1954 . Tại đây Chu Ân Lai báo cáo thực tế tình hình đàm phán ở Genève, ý đồ của phương Tây, đặc biệt là âm mưu của Mỹ, thuyết phục Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp lui một bước, chấp nhận vĩ tuyến 16 làm ranh giới quân sự tạm thời…
Về lập trường và thủ đoạn của Pháp: Mặc dù đã thua trận nhục nhã ở Điện Biên Phủ và đối diện với nguy cơ sụp đổ nhanh chóng các bộ phận sức mạnh quân sự trên khắp các chiến trường, nhưng cả hai trưởng đoàn đàm phán của Pháp kế nhiệm nhau từ George Bidault đến Mendes France tuy phương pháp và mục tiêu đàm phán có những điểm khác biệt rất căn bản nhưng đều lợi dụng thế lực của Mỹ để đe dọa đối phương, và cũng đều lợi dụng sách lược “hòa bình và những lợi ích nước lớn” của Liên xô và Trung quốc nhằm áp đặt Việt nam chấp nhận những điều kiện đàm phán không tương xứng với những thắng lợi trên chiến trường cùng sự ủng hộ của dư luận báo chí trên thế giới và một bộ phận quần chúng Pháp.
Lập trường của Pháp với chủ trương của ngoại trưởng George Bidault và thủ tướng Laniel là không thương thuyết với Việt minh, chỉ mặc cả với Liên xô và Trung quốc để hai nước này chấm dứt sự giúp đỡ Việt nam tiếp tục chiến tranh, đề xuất trước Anh và Mỹ, Liên xô và Trung quốc mô hình một Việt nam trung lập với hai đại diện là Bảo Đại và Hồ Chí Minh, Pháp sẽ rút lui trong danh dự và những lợi quyền được bảo đảm. Chủ trương này của Pháp không những bị phản kịch liệt từ phía VNDCC mà còn chẳng được cả Mỹ lẫn Liên xô, Trung quốc hưởng ứng. Trước tình hình chiến sự ở Đông dương nhanh chóng phát triển theo chiều hướng nguy hiểm cho Pháp, chính phủ Laniel sụp đổ. Mandes France lên thay làm thủ tướng và kiêm nhiệm ngoại trưởng cầm đầu phái đoàn đàm phán ở Genève với kế hoạch đàm phán 30 ngày. Mandes France không hoàn toàn bác bỏ vai trò của Việt minh tại hội nghị, nhưng vẫn vận dụng tối đa uy quyền cường quốc của Liên xô và đặc biệt là Trung quốc đối với Việt minh, tận dụng thế và lực của Pháp tại Liên Minh phòng thủ châu Âu và tại Liên Hiệp Quốc để mặc cả lợi quyền với hai nước Cọng sản này, đồng thời sử dụng “nguy cơ can thiệp Mỹ” để hù dọa đối phương. Những điều kiện Mandes France đưa ra không xa lắm với thông cáo chung 7 điểm của Mỹ và Anh đã đúc kết tại Washington  ngày 29 – 6, nhưng so với lập trường của Việt nam do trưởng đoàn Phạm Văn Đồng công bố tại Genève  ngày 10 tháng 5 thì còn có những khoảng cách lớn. Nội dung tám điểm của Phạm Văn Đồng như sau:
1/ Pháp công nhận nền độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt nam, Lào và Cam bốt.
2/ Ký một hiệp định về việc rút quân đội nước ngoài ra khỏi Việt nam, Lào, Cam Bốt trong thời hạn do các bên tham chiến ấn định. Trước khi rút quân, các bên cần  thỏa thuận về nơi đóng quân của lực lượng Pháp và Việt nam trong những khu vực hạn chế.
3/ Tổ chức tổng tuyển cử tự do nhằm thành lập chính phủ duy nhất cho mỗi nước.
4/ Việt nam Dân chủ Cọng hòa tuyên bố ý định xem xét việc tự nguyện gia nhập Liên Hiệp Pháp và những điều kiện của việc gia nhập đó.
5/ Ba nước Việt nam, Lào, Cam bốt thừa nhận các quyền lợi kinh tế, văn hóa của Pháp tại mỗi nước. Sau khi các chính phủ duy nhất được thành lập, các quan hệ kinh tế, văn hóa sẽ được giải quyết theo đúng các nguyên tắc bình đẳng .
6/ Hai bên cam kết không truy tố những người đã hợp tác với đối phương trong thời gian chiến tranh.
7/ Trao trả tù binh và dân thường bị bắt trong chiến tranh.
8/ Các biện pháp nói trên sẽ được thực hiện sau khi quyết định đình chỉ chiến sự.
Việt nam Dân chủ Cọng hòa là một bên chính thức và trực tiếp tham dự vào cuộc chiến, đồng thời cũng là kẻ đang làm chủ chiến trường với chiến thắng vang dội Điện Biên Phủ, nhưng có phải vì vậy mà áp đặt được đối phương các điều kiện đã công bố trước hội nghị? Thực tế không phải như vậy. Tương quan lực lượng trên mặt trận đàm phán chỉ phản ảnh một phần tương quan lực lượng trên chiến trường, phần còn lại là khả năng phát triển tình thế với một tương quan lực lượng mới nếu cuộc chiến không dừng lại vào thời điểm đó. Bởi cuộc chiến tranh Đông dương lần thứ nhất không chỉ là cuộc xung đột đơn phương giữa Pháp và Việt nam mà có thể nói nó là một trong ba mặt trận của cuộc khủng hoảng lớn mang tính toàn cầu giữa hai phe Tư Bản và Cọng Sản, nó liên hệ chặc chẽ với cuộc chiến tranh Triều Tiên vừa mới kết thúc mà vấn đề chính trị đang còn nhập nhằng. Đồng thời nó cũng liên hệ chặc chẽ với cuộc diện căng thẳng giữa Liên minh phòng thủ châu Âu do Mỹ đứng đầu và khối các nước Cọng Sản Đông Âu do Liên xô cầm trịch. Nó có nguy cơ dẫn đến một cuộc thế giới đại chiến  lần thứ ba.
Sau lưng Pháp còn có Anh, Mỹ…
Sau lưng Việt nam Dân chủ Cọng hòa còn có Liên xô và Trung quốc
Cuộc đàm phán ở Genève thực chất là cuộc giằng co giữa hai phe (Tư Bản – Cọng Sản) đồng thời cũng còn là các cuộc giằng co, hù dọa, mặc cả tay đôi hoặc tay ba giữa các nước đồng minh, đồng chí hay giữa các nước thù địch (Pháp – Mỹ, Anh – Pháp, Anh – Mỹ, Anh – Liên xô, Pháp – Trung quốc, Trung Quốc – Việt nam,  Việt nam –  Liên xô, Trung quốc – Liên xô). Xung dột ý thức hệ chỉ là một mặt – mặt nổi, xung đột quyền lợi quốc gia dân tộc là tầng sâu là động lực chính của vấn đề.
Phái đoàn Phạm Văn Đồng xuất hiện trước diễn đàn Genève, trước giới truyền thông, công chúng Pháp và Tây Âu với hào quang Điện Biên Phủ nhưng chưa có tiếng nói mạnh có tính quyết định so với các đại diện của ngũ cường (Sau chiến thắng Tưởng Giới Thạch và cuộc đụng đầu với Mỹ ở Triều Tiên cũng như sự giúp đỡ Việt minh trong chiến tranh Đông dương, Trung quốc nghiễm nhiên trở thành cường quốc). Do vậy lập trường tám điểm của Việt nam Dân chủ Cọng hòa còn phải bị cọ xát với lập trường chung của phương Tây cũng như lập trường và thủ pháp riêng của từng kẻ thù hay mỗi một đồng minh, đồng chí. Tôi xin được nhắc lại: Ở Hội nghị trù bị Mạc Tư khoa, phía Việt nam được đồng minh Liên xô và Trung quốc thông báo rằng họ chấm dứt viện trợ trong trường hợp chiến tranh kéo dài và phát triển – Mỹ nhảy vào. Quyết định này của hai nước Cọng sản đàn anh có những lý do chung và riêng của nó. Do phạm vi của bài tham luận tôi không thể trình bày đầy đủ ở đây. Quyết định này đặt để Việt nam trước tình thế là không thể tiếp tục chiến tranh khi không có vũ khí và các trang thiết bị quân sự khác trước một đối phương có quân số đông gấp bội (từ 450.000 → 500.000 gồm quân viễn chinh Pháp, quân Ngụy ở Việt Nam, Lào, Miên) mặc dù đang trong tinh trạng rệu rã trước thất bại Điện Biên Phủ nhưng hoàn toàn có khả năng khôi phục, chỉnh đốn lại, đặc biệt với sự hăm he tham chiến của Mỹ.
Mấy vấn đề lớn và khó khăn gây tranh cải quyết liệt và lâu dài ở hội nghị Genève:
— Một là vấn đề độc lập, chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Việt nam, Lào, Cam Bốt được thừa nhận đến đâu? Đây là vấn đề cốt lõi của mọi vấn đề  mà các bên quan tâm và đặt ra tiếp theo.
— Hai là vấn đề quân sự và chính trị giải quyết đồng bộ cùng lúc hay riêng lẻ trước sau?
— Ba là khu vưc đóng quân và chọn vĩ tuyến làm ranh giới quân sự tạm thời và thời hạn rút quân.
— Bốn là vấn đề hiệp thương, tổng tuyển cử thống nhất đất nước.
— Năm là sự tồn tại và khu vực đóng quân của lực lượng kháng chiến Lào và Cam Bốt.
Như mọi người đều biết Điện Biên Phủ không phải là trận cuối cùng trong cuộc chiến tranh Đông dương lần thứ nhất. Do vậy việc nước Việt Nam và cả hai nước Miên, Lào đạt được tình trạng độc lập, chủ quyền và thống nhất hoàn toàn như mong muốn của nhân dân và giới và lãnh đạo kháng chiến của ba nước chưa có thể trở thành hiện thực. Ngay trong qúa trình diễn ra hội nghị Genève, ba nước lớn của phe Tư bản là Pháp, Anh, Mỹ cũng chẳng đoái hoài gì đến ý kiến của các “chính phủ Quốc Gia do họ dàn dựng nên”, nói chi đến nguyện vọng và ý chí của các dân tộc Việt, Miên, Lào. Đọc kỷ thông báo chung Washington 29 – 6 ta thấy rõ điều này. Các nhà lãnh đạo Mỹ và Anh chỉ quan tâm đến phần đất còn lại (sau khi bị bắt buộc nhường cho Việt Minh…) có bị nhuộm đỏ hay không, có nghĩa là con cờ đô mi nô Đông dương có bị lật nhào để chủ nghĩa Cọng sản có thể tràn xuống Đông Nam Á và cuối cùng là nước Mỹ không, chứ chẳng hề quan tâm tới sự chia cắt lâu dài hay vĩnh viển một đất nước có làm tổn thương dến tình tự dân tộc và quyền lợi của đất nước ấy như thế nào?
Ngày 4 tháng Sáu, Laniel thủ tướng Pháp ký với Bửu Lộc thủ tướng của Bảo Đại hiệp ước trao trả độc lập hoàn toàn cho một nước Việt nam thống nhất, nhưng những ngày tiếp theo của hội nghị Genève Bidault và Mendes France thay nhau cầm đầu phái đoàn Pháp chẳng hề biết có một phái đoàn “Quốc gia Việt nam” bên cạnh mình, mặc cho Nguyến Quốc Định rồi Trần Văn Đỗ (ngoại trưởng cầm đầu phái đoàn đó) bức xúc than trách: “Pháp đã tiếm quyền, điều đình chia cắt đất nước với Việt minh Cọng sản”. Thực tế không phải Pháp tiếm quyền mà Nguyễn Quốc Định và Trần Văn Đỗ đã lộng ngôn. “Quốc gia Việt nam chỉ là một giải pháp của Pháp trong quá trình đánh nhau với Việt minh, Quốc gia Việt nam có quyền lực gì để Pháp tiếm?
Sau những đàm phán công khai và cả bí mật, khẩn trương và căng thẳng, hội nghị Genève đã kết thúc vào cuối ngày 20 rạng sáng 21 tháng 7 năm 1954 với các văn kiện chính thức sau đây:
— Ba bản hiệp định đình chiến riêng lẻ tại ba nước Miên, Lào và Việt nam được ký kết giữa đại diện hai nước trực tiếp tham chiến là Pháp và Việt nam.
Đại diện phía Pháp là thiếu tướng Deltei. Đại diện phía Việt nam là thứ trưởng quốc phòng Tạ Quang Bửu.
— Sau khi chứng kiến sự ký kết các hiệp định đình chiến, đại diện 9 nước tham gia hội nghị thông qua một văn kiện gọi là bản tuyên bố cuối cùng không có chữ ký gồm các nội dung chính sau đây:
     — Pháp và các nước tham gia hội nghị công nhận độc lập, chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Miên, Lào và Việt nam.
     — Pháp sẵn sàng rút quân về nước theo yêu cầu của các chính phủ sở tại – các chính phủ Quốc gia do Pháp nặn ra-, thời gian rút quân do hai bên thỏa thuận.
     — Trong vòng 300 ngày kể từ lúc quyết định đình chiến có hiệu lực, quân đội hai bên tập kết vào hai khu vực đóng quân và quản lí hành chánh tạm thời: Quân pháp về phía nam vĩ tuyến 17, quân Việt minh về phía bắc vĩ tuyến 17.
Vĩ tuyến 17 là ranh giới quân sự tạm thời , trong tất cả mọi trường hợp không được xem là ranh giới chính trị hay lãnh thổ, chính quyền lâm thời của mỗi bên không được tham gia bất cứ một liên minh quân sự nào, không sử dụng khu vực tập kết của mình nhằm phục vụ vác chính sách hiếu chiến, không trả thù những người đã cọng tác với đối phương trong thời gian chiến tranh, không xâm phạm sinh mệnh và tài sản của nhân dân, Dân chúng được quyền đi lại từ nơi này đến nơi kia và tự do chọn nơi cư trú lâu dài.
     — Cấm các nước khác đưa quân đội, nhân viên quân sự cũng như các loại vũ khí đạn dược vào Việt nam.
Việc thống nhất nước Việt nam sẽ do chính quyền (lâm thời – CS) của hai miền Nam – Bắc  bàn thảo vào đúng một năm sau (20 – 7 – 1955 ) nhằm xúc tiến tổ chức một cuộc tổng tuyển cử vào đúng hai năm sau (20 – 7 – 1956 ) để bầu ra một chính quyền duy nhất cho một nước Việt nam độc lập và thống nhất.
     — Một Uỷ ban kiểm soát đình chiến được bầu bởi đại diện ba nước Ấn độ, Gia nã đại và Ba lan. Các nước tham gia hội nghị Genève đồng thuận trao đổi ý kiến về bất cứ vấn đề nào do Ủy ban kiểm soát quốc tế nêu ra để tìm biện pháp khắc phục mọi chướng ngại, giải quyết và chấm dứt các vi phạm nhằm thực hiện đầy đủ và đúng đắn các điều khoảng của Hiệp định.
Không đợi đến thời điểm này (2012) gần 60 năm sau khi hiệp định Genève được ký kết, chúng ta mới thấy tính chất pháp lí nửa vời và lỏng lẻo của Bản tuyên bố cuối cùng của 9 nước tham gia hội nghị.
Bản tuyên bố cuối cùng của hội nghị ở phần mở đầu có ghi tên đầy đủ cả 9 nước nhưng chỉ biểu quyết bằng miệng, không có chữ ký của bất cứ quốc gia nào. Đó là trục trặc thứ nhất. Trục trặc thứ hai là hai phái đoàn Mỹ và Quốc gia Việt nam ra tuyên bố riêng rằng họ không chống lại hòa bình do hội nghị đem lại, nhưng họ không bị ràng buộc vào các điều khoản của Hiệp định. Điều này cũng có nghĩa là họ không công nhận sự tồn tại của chính phủ Việt nam Dân chủ Cọng hòa ở miền Bắc. Trục trặc thứ ba: Ủy ban kiểm soát quốc tế chỉ là một tổ chức tượng trưng, không có quyền lực trong thực tế.
Quan sát quá trình diễn ra hội nghị, đọc kỹ bản tuyên bố cuối cùng, chúng ta có thể tóm lược tình hình và kết quả của hội nghị Genève như sau:
Về phía phương Tây: Anh, Mỹ, Pháp, tuy mục tiêu và phương pháp đàm phán có những khác biệt, nhưng sau những hội đàm, gặp gỡ, trao đổi, mặc cả bên ngoài hội nghị, cuối cùng cũng đạt được sự thống nhất như sau: Bằng những thủ pháp ngoại giao, hạn ché đến mức thấp nhất các tác hại chính trị do tác động bởi các thất bại trên chiến trường. Lợi dụng khuynh hướng hòa bình, các nhu cầu và lợi ích của hai nước lớn XHCN(Liên xô, Trung quốc) để mặc cả,và sử dụng Mỹ như là một thế lực hùng mạnh có khuynh hướng và khả năng can thiệp, kéo dài, đẩy mạnh chiến tranh lên tầm cao và ra ngoài khu vực Đông dương, dẫn đến nguy cơ bùng phát thế chiến III, để áp đặt đối phương (VNDCCH) chấp nhận những điều kiện có lợi cho phương Tây.
Ngày 18 tháng 6 năm 1954, với sự thỏa thuận, sắp xếp của Mỹ và Pháp, sự đóng góp của giáo hội Thừa sai Pháp và giáo hội La mã, Bảo Đại chấp nhân Ngô Đình Diệm thay Bửu Lộc làm Thủ tướng. Ngày 7 tháng Bảy, Ngô đình Diệm về nước, Ngày 22 tháng Bảy Diệm ra lệnh treo cờ rũ để phản đối sự chia cắt đất nước và bắt đầu đàn áp phong trào quần chúng đấu tranh dân chủ, kêu gọi hòa bình và thi hành Hiệp định Genève, tiếp tay với Pháp và Mỹ đưa gần một triệu người đa phần là giáo dân Thiên Chúa giáo vào Nam, định cư và tổ chức họ thành lực lượng hậu thuẫn cho chính quyền. Anh em Ngô Đình Diệm với sự giúp sức của CIA tổ chức đảng Cần lao, thanh lọc hàng ngũ quốc gia, đánh phá sát hại các lãnh tụ giáo phái, loại trừ vây cánh và lật đổ Bảo Đại, tự phong làm tổng thống nước Việt nam Cọng hòa, tiến hành các biện pháp đẫm máu qua các chiến dịch tố Cọng, diệt Cọng nhằm trả thù, tiêu diệt những người cựu kháng chiến, những cán bộ Cọng sản ở lại tổ chức, kêu gọi dân chúng đấu tranh đòi hiệp thương tổng tuyển cử theo tinh thần hiệp định Genève. Mô tả tình hình miền Nam ba năm 1954, 1955, 1956, các nhà quan sát, các sử gia trung lập gọi đây là cuộc chiến tranh từ một phía (Mỹ và Ngô đình Diệm).
Ngày 6 tháng 6 năm 1955, cùng thời gian này của năm 1956, trả lời công hàm của thủ tướng chính phủ Việt nam Dân chủ Cọng hòa Phạm Văn Đồng đề nghị hiệp thương tổ chức tổng tuyển cử nhằm thống nhất đất nước, Ngô Đình Diệm tuyên bố:
“Ông và chính phủ của ông không bị ràng buộc bởi hiệp định Genève. Vả lại miền Bắc theo chế độ Cọng sản độc tài, không thể tổ chức một cuộc bầu cử dân chủ, khách quan, công bằng theo ý nguyện của toàn dân”
Lời tuyên bố “khẳng khái” nhưng vô cùng dối trá của Ngô Đình Diệm lại được hậu thuẫn bởi những nhận định rất thật, rất chính xác của những đại diện quyền lực nhất của phương Tây trước và sau khi hiệp định Genève được ký kết.
Ngày 7 tháng Bảy năm 1954, ngoại trưởng Mỹ Dulles, kiến trúc sư của chiến lược ngoại giao Hoa Kỳ thập niên 1950 đã bày tỏ: “chẳng cần hồ nghi về việc các cuộc bầu cử có thể đưa đến thống nhất Việt nam dưới quyền Hồ Chí Minh” (Pentagon Papers 46 – Trích lại từ Thập giá và lưỡi gươm của tác giả Linh mục Trần Tam Tĩnh).
Không bao lâu sau khi kết thúc hội nghị Genève, Eisenhower,  tổng thống Mỹ đương nhiệm, cũng đã khẳng định: “Nếu bầu cử xảy ra theo như hiệp định Genève đã tiên liệu thì 80% dân chúng miền Nam sẽ bỏ phiếu cho Hồ Chí Minh” (Trích lại từ Thập giá và lưỡi gươm – Linh mục Trần Tam Tĩnh)
Khoảng 15 ngày sau khi hiệp định Genève công bố, báo Missi (báo Thiên chúa giáo xuất bản tại Pháp)  đang tải lập trường chính thức của các tu sĩ dòng Tên có nội dung như sau:
— “Sẽ không có đầu phiếu….Việt minh vẫn mong muốn một thắng lợi trọn vẹn, càng hòa hoãn, thì càng có tính quyết định hơn. Họ mong có một chiến thắng về tâm lí “giải phóng” bởi vì cái bối cảnh chính trị và những mối liên lụy miền Nam mắc phải, có lợi cho họ”
— “Nhưng các cuộc bầu cử có lợi cho Việt minh không thể xẩy ra, bởi vì Hoa kỳ và các thành viên Đông Nam Á không thể chấp nhận sự đảo ngược cán cân như thế. Càng không thể được khi mà chính quyền Việt nam(Quốc gia.C.S) đã nhất định quay sang phía Hoa kỳ, được coi là thành trì các nước tự do” (Missi số 7 1954 trang 252. trích lại từ Thập giá và lưỡi gươm -Linh mục Trần Tam Tĩnh).
Quả tình các tu sĩ dòng Tên và chắc chắn cả giáo hội Thừa sai Pháp quốc cùng giáo hội La mã rất am hiểu tình hình chính trị và hoạt động ngoại giao của F.Dulles, ngoại trưởng Hoa kỳ.
Ngày 8 – 9 – 1954 tại Manila, Liên minh phòng thủ Đông Nam Á (SEATO) ra đời với sự ký kết của đại diện các nước Anh, Úc, Pháp, Tân tây lan, Thái lan, Pakistan và sự bao sân của Mỹ. Mặc dù không có sự tham dự của Miên, Lào và Quốc gia Việt nam, nhưng kế hoạch phòng thủ vẫn bao gồm những phần đất “có nguy cơ Cọng sản hóa này”. Các nước Miên, Lào phản ứng rằng mình không dính nhập gì với SEATO, nhưng chính quyền Ngô Đình Diệm thì không công khai nhưng hoan hỉ chào mừng. Thái độ này phản ảnh quan điểm, lập trường của “ba nước” về hiệp định Genève. Và như nhận định của các tu sĩ dòng Tên thì “chính quyền Việt nam (đối với các giáo hội Thừa sai và La mã không có chính quyền miền Bắc – Việt nam Dân chủ Cọng hòa – Chu Sơn) đã nhất định quay sang phía Hoa kỳ, được coi là thành trì của các nước Tự do”. Các giáo hội Thừa sai và La mã theo dõi sát sao các diễn biến chính trị thế giới đặc biệt các mối quan hệ giữa Tây phương và Đông dương. Họ rất am tường các hoạt động ráo riết của F. Dulles và Hoa kỳ để hình thành SEATO từ những tháng trước khi hội nghị Genève khai mở.
SEATO ra đời, đối với F. Dulles: nhiệm vụ của Pháp tại Đông dương xem như đã cáo chung và Mỹ thực sự đặt bàn chân thứ hai còn lại vào Việt nam. Bắt đầu từ thời điểm này những cam kết về độc lập chủ quyền về sự rút quân viễn chinh ra khỏi Việt nam theo các điều kiện của hiệp định Genève thực tế là cả một quá trình mặc cả đi đến thỏa thuận chuyển giao quyền lực giữa Pháp và Mỹ chứ không phải giữa Pháp và các chính quyền Đông dương do Pháp nhào nặn, sử dụng trong chiến tranh và tiếp tục bảo lưu là công cụ trong hòa bình.
Pháp nhả Đông dương cho Mỹ để nhận viện trợ của nước này hầu đương đầu với cuộc kháng chiến của nhân dân Algerie phát khởi mãnh liệt sau chiến thắng vang dội của Việt nam tại Điên Biên Phủ.
Cũng như Pháp –  Anh –  Mỹ, hai nước Cọng sản hàng đầu là Liên xô và Trung  quốc đều xem Hiệp định Genève là thành tựu để giảm thiểu các mối quan hệ căng thẳng có nguy cơ dẫn đến xung đột lớn như thế chiến III, cho dù chiến tranh Đông dương có đình chỉ tạm thời và hòa bình chỉ là một bối cảnh không lấy gì làm chắc chắn.
Liên xô, nước chịu thiệt hại nặng nề nhất trong thế chiến II,  có những vấn đề nội bộ cấp bách cần giải quyết, có sự quan tâm thường trực về những đe dọa từ Khối phòng thủ chung châu Âu (NATO)do Mỹ đứng đầu, cưu mang sự nghiệp xuất khẩu cách mạng ra bên ngoài và đặc biệt là các chương trình kế hoạch to lớn về vũ khí chiến lược và nghiên cứu vũ trụ để chạy đua với Mỹ.
Trung quốc cũng có những vấn đề nội bộ cực kỳ nghiêm trọng: Đời sồng nhân dân cùng cực sau hàng trăm năm bị cấu xé bởi “lục cường”, bị tàn phá bởi các cuộc nội chiến phong kiến và cách mạng, gần nhất là cuộc kháng chiến chống xâm lược Nhật và cuộc chiến tranh mấy chục năm với kẻ nội thù Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch, đương đầu với Mỹ trong vấn đề Đài Loan, đánh nhau với Mỹ ở Triều tiên, giúp Việt nam đành Pháp ở Đông dương. Đặc biệt là tình trạng nội chiến âm ỉ giữa hai phe, hai khuynh hướng cách mạng Xã hội chủ nghĩa trong lòng đảng Cọng sản mà sau này thế giới mới biết được qua những thông tin dưới tên gọi là cuộc Đại cách mạng Văn hóa.
Để giải quyết các khó khăn nội bộ, và cũng để khẳng định vị trí, vai trò quốc tế của mình thông qua sách lược chung sống hòa bình, cả Liên xô và Trung quốc đều tìm thấy ở hội nghị Genève một cơ hội. Đối với Trung quốc hiệp định Genève còn là một giải pháp phù hợp với những lợi ích trước mắt và lâu dài của mình tại Đông dương, vị trí chiến lược phía nam nhìn về Đông nam Á.
Sau gần một trăm năm bị xâm lược và chống xâm lược, chìm đắm trong chiến tranh, tối tăm, nô lệ và đói nghèo, sau 9 năm kháng chiến với tất cả sức lực có thể vận động được và sự hy sinh đổ nát vô bờ bến, đất nước nhân dân cần được nghỉ ngơi để phục hồi sinh lực. Đình chỉ chiến sự, thiết lập hòa bình trong bối cảnh thế giới tạm hòa hoản là sự chọn lựa thực tế và đúng đắn của các nhà lãnh đạo Việt nam đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh.
Những chiến công mà quân và dân dưới sự lãnh đạo của Việt minh, của đảng Cọng sản và của chủ tịch Hồ Chí Minh đã giành được trên khắp các chiến trường và đặc biệt chiến thắng Điện Biên Phủ đã làm cho cả thế giới biết đến lần đầu tiên có một nước Việt nam tồn tại dưới ánh mặt trời, có một dân tộc Việt nam anh hùng và bất khuất đã đánh bại một đội quân sừng sỏ của một đế quốc sừng sỏ, một bộ phận sức mạnh cấu thành thế giới Tư bản chủ nghĩa và nền văn minh Ky tô giáo.
Việt nam Dân chủ Cọng hòa, cái tên được khai sinh từ cách mạng tháng Tám 1945, cái biểu tượng tập hợp mọi nguồn năng lượng tiềm ẩn trong nhân dân đã un đúc và phát triển thành sức mạnh của cuộc kháng chiến trường kỳ, cái “chính phủ ma” mà thực dân Pháp và các thế lực đế quốc đã tìm đủ mọi biện pháp để hủy diệt và phủ định, đến thời điểm cuối cùng của cuộc chiến tranh Đông dương lần thứ nhất đã cử tới Genève một phái đoàn đại diện để tham dự vào cuộc đàm phán nhằm đình chỉ chiến tranh lập lại hòa bình.
Vào thời điểm 1945, Việt nam Dân chủ Cọng hòa chưa được “phe ta” thừa nhận và là đối tượng hủy diệt của đối phương. Đến thời điểm 1954, Việt nam Dân chủ Cọng hòa dù chỉ là chính phủ được mời và tiếng nói của nó chưa phải là tiếng nói quyết định trên bàn hội nghị, nhưng nếu thiếu nó chiến tranh không thể chấm dứt, hòa bình Đông dương không thể lập lại, bởi nó là một trong hai lực lượng trực tiếp đánh nhau và là một trong hai nước ký tên vào ba văn bản đình chiến.
Độc giả đời sau cần lưu ý: ba trên bốn (tứ cường) hay ba trên năm (ngũ cường) có vai trò và tiếng nói quyết định sự thành bại của hội nghị Genève là đối phương, là kẻ thù của Việt nam Dân chủ Cọng hòa trên chiến trường cũng như trên bàn đàm phán.
Một kẻ thù đã một thời ngoan cố chọn con đường duy nhất: bạo lực, để thành đạt mục đích của mình là hủy diệt đối phương, tái chiếm thuộc địa, đến thời điểm 1954, chẳng những không hủy diệt được mà còn bị đối phương đánh bại, phải mời đối phương ngồi lại điều đình rút quân trước bàng quan thiên hạ, vô hình chung, mặc nhiên thừa nhận sự tồn tại của đối phương trên mặt pháp lí và dư luận quốc tế. Chỉ thế này thôi cũng đã là thắng lợi cho Việt nam Dân chủ Cọng hòa rồi.
Tuy nhiên thắng lợi lớn nhất của kháng chiến Việt Nam, của Việt nam Dân chủ Cọng hòa lại nằm trong hai văn kiện: Một là tuyên bố riêng của chính phủ Pháp, hai là tuyên bố cuối cùng không có chữ ký của 9 quốc gia tham gia hội nghị mà giá trị pháp lí không được bảo chứng một cách mạnh mẽ và đầy đủ bởi tương quan lực lượng sau Hiệp định Genève có chiều hướng thay đổi:
Mỹ ráo riết chuẩn bị mọi điều kiện để thay Pháp bảo trợ “Quốc gia Việt nam” với Ngô Đình Diệm làm thủ tướng. Cả hai, Mỹ và Quốc gia Việt nam đều ra tuyên bố riêng bày tỏ lập trường đứng ngoài Hiệp định Genève, cảnh báo những đe dọa từ bên ngoài tác động xấu đến nền an ninh, sự ổn định, chủ quyền của ba nước Việt, Miên, Lào và phủ nhận sự tồn tại của Việt nam Dân chủ Cọng hòa.
Trong khi đó Việt nam Dân chủ Cọng hòa một mặt hy vọng vào sự thống nhất đất nước theo các điều khoản của hiệp định Genève, mặc khác, chưa chuẩn bị lực lượng khả dĩ để đương đầu với tình thế mới: đe dọa, cứng đầu từ phía Mỹ – Diệm và sự đình chỉ viện trợ từ phía Liên xô, Trung quốc.
Do vậy, câu:
“Pháp và các nước tham gia Hội nghị Genève  tuyên hứa tôn trọng độc lập, chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt nam” rút ra từ tuyên bố riêng của Pháp và tuyên bố cuối cùng của 9 nước tham gia Hội nghị Genève được hiểu và vận dụng một cách tương đối, tùy thuộc vào chỗ đứng lịch sử của mỗi người, mỗi cộng đồng chính trị.
Như thế “thắng lợi lớn nhất” chưa phải là thắng lợi cuối cùng mà chỉ là “thắng lợi bắt đầu” như nhận định của chủ tịch Hồ Chí Minh trong thư khen quân và dân một ngày sau chiến thắng Điện Biên Phủ. “Thắng lợi bắt đầu” cũng là thành quả của phái đoàn Việt nam Dân chủ Cộng hòa thu nhận được từ Hội nghị Genève.
Đọc lại lịch sử dân tộc, tìm hiểu Hội nghị Genève và Hiệp định Genève, chúng ta, con dân nước Việt  thế hệ sau, thừa hưởng công lao to lớn của các thế hệ cha ông đã tranh đấu, hy sinh cho nền độc lập của đất nước, bản thân tôi không khỏi bồi hồi xúc động khi đọc lại bốn từ đơn giản nhưng chứa đựng biết bao nỗi niềm của vị cha già dân tộc: Có niềm vui chưa trọn của “chiến thắng bắt đầu” chìm khuất trong nỗi lo lớn cùng niềm tin vào chân lí dân tộc và ý chí chiến đấu cho một nền độc lập hoàn toàn của đất nước đến thắng lợi cuối cùng.
Giành lại được một nửa đất nước sau 9 năm kháng chiến với quá nhiều đổ vỡ, hy sinh gian khổ là một cái giá tương đối đắt.
Nhưng cái giá đó không đắt khi từ trong cuộc kháng chiến, qua quá trình diễn ra và kết thúc Hội nghị Genève, chúng ta (dân tộc Việt nam và các nhà lãnh đạo kháng chiến) học được nhiều bài học về ngoại giao và cách ứng xử trong tất cả các mối quan hệ Quốc tế bạn – thù, địch – ta trước những biến động không ngừng các tương quan lực lượng.
Những bài học đó có vai trò rất tích cực trong chiến tranh và cả trên bàn đàm phán suốt gần 5 năm tại Hội nghị Paris với đế quốc Mỹ trong cuộc chiến tranh Đông dương lần thứ hai.
Thắng lợi cuối cùng và cũng là bài học đắt giá nhất chúng ta học được sau hai cuộc kháng chiến là: Chỉ có lợi ích dân tộc tồn tại vĩnh viễn trong các mối quan hệ quốc tế. Tất cả các lợi ích khác đều là giai đoạn.
Tài liệu tham khảo:
1/ Bùi Diễm – Gọng kìm lịch sử  – nhà xuất bản Phạm Quang Khải  –  Paris 2000.
2/Charles Keith  –  Phạm Minh Ngọc dịch: An Nam vùng lên  – Những vị giám mục đầu tiên của Việt Nam và sự hình thành  giáo hội dân tộc giai đoạn 1919 – 1945   – tạp chí  Talawas số mùa thu 2009.
3/ Daniel Grandelement  – Bao Dai ou les dernièrs jours d’emprire d’Annam  –  nhà xuất bản TC Lattès  –  1977.
4/ Đinh Xuân Lâm  –  Trương Tấn Quỳnh  – Lê Mậu Hãn  – Đại cương lịch sử Việt nam toàn tập  – nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội  – 2005.
5/ Đỗ Mậu  – Tâm sự tướng lưu vong (Việt nam máu lửa quê hương tôi)   –  nhà xuất bản Công an Nhân dân  –  1995.
6/ Graham Green  –  The quiet American  – nhà xuất bản William Hememann  –  1955.
7/ Guy Mettan  –  Genève ville de paix  –  De la conference de 1954 sur L’ Indochine à la coopération internationnale, Ed. Slatkine, Genève, 2004. Nghi Hoàng dịch: 87 ngày đàm phán gay cấn  –  Xưa và Nay số 215 tháng 7 năm 2004.
8/ Hoàng Trọng Miên  –  Cựu hoàng Bảo Đại  – nhà xuất bản Thời Đại  – 2010.
9/ Jean Lacouture  – Pièrre Mendès France  –  nhà xuất bản Seuil  –  Paris 1985. Đào Hùng trích dịch: Cuộc chiến ở Genève  – tạp chí Xưa và Nay số216 – tháng 7 – 2004.
10/ Lê Xuân Khoa  – Việt nam 1945 – 1975 Tập I  – nhà xuất bản Tiên Rồng  – 2004.
11/ Lê Tiền Giang  –  Thiên Chúa giáo kháng chiến Nam bộ 1945 – 1954  – nhà xuát bản Chọn -Sài Gòn  – 1972.
12/ Peter A Poole  –  The United State and Indochine from J. f .Kenedy to Nixon  – nhà xuất bản George Washington university  – Washington DC.
13/ Pillip Papin  – Vietnam parcour d’un nation  – bản dịch của Nguyễn Khánh Long: Việt Nam hành trình một dân tộc  –  nhà xuất bản Thời Đại Canada  – 2001.
14/ Quian Jiang  – Hội nghị Liễu Châu  – bản dịch của Dương Danh Dy  –  nguồn: diendan forum ngày 06 tháng 1 năm 2001 cập nhật bởi Tiền Giang
15/ Tập Văn Ngày Mai   –  tập II tháng 10 năm 1954 – nhà xuất bản Ngày Mai Huế.
Chu Sơn.
Chuson1112@yahoo.com